Nghiên cứu “Người Hoang dã” – Wildman tại Việt Nam

Tóm tắt : Trong khoảng gần 300 năm lại đây tìm hiểu và nghiên cứu “Người hoang dã” (Wildman) đã trở thành vấn đề thời sự hấp dẫn trên toàn cầu, nhiều nghiên cứu khoa học nghiêm túc đã có những báo cáo về : người Yeti ở Himalaya, người Yeren ở Trung quốc, người Almas ở Mông Cổ-Pamir, người Bigfoot ở Canada, người Orang pandes ở Indonesia, Người rừng (Wildman) ở Việt Nam…

Nghiên cứu “Người Rừng” (Wildman) tại Việt Nam, không giống như nhiều khảo sát Động vật ẩn sinh (Cryptozoology) khác trên thế giới, vì được xây dựng trên một nền tảng khoa học đa ngành vững chắc, tổng hợp và phân tích các bằng chứng từ ba trụ cột chính, để lập luận rằng giả thuyết về “Người Rừng” tại Việt Nam không phải là văn hóa dân gian đơn thuần, mà là một khả năng khoa học hợp lý, đòi hỏi sự nghiên cứu nghiêm túc. Ba trụ cột đó bao gồm:

  1. Một kho tàng di sản cổ sinh vật học và khảo cổ học phong phú, xác nhận sự cùng tồn tại lịch sử của Homo sapiens với các loài vượn người lớn (Great Apes) và Hominin khác như Đười Ươi (Pongo pygmaeus) Người  vượn khổng lồ (Gigantopithecus blacki),  Người cổ đại (Homo erectus), cung cấp một “hạt nhân sự thật” (kernel of truth) và tính khả thi về mặt sinh-địa lý.
  2. Một kho tàng dữ liệu dân tộc học và lịch sử nhất quán từ các cộng đồng bản địa và các nhân chứng lịch sử: Truyện đân gian truyền miệng, văn học truyền miệng …mô tả một thực thể độc lập, phân biệt rõ ràng với các loài động vật đã biết trong khu vực.
  3. Các bằng chứng vật thể từ nghiên cứu thực địa có hệ thống, nổi bật là ảnh và mẫu đúc dấu chân 824T1 (Kon Tum, 1982) do PGS.TS Trần Hồng Việt thu thập, mà các phân tích hình thái cho thấy không phù hợp với gấu, người, hay vết trượt.

Sự hội tụ của ba dòng bằng chứng này khiến trường hợp nghiên cứu Người rừng Việt Nam trở thành một trong những trường hợp nghiên cứu Động vật ẩn sinh mang tính hấp dẫn và thuyết phục .

Bài viết này đánh giá liên ngành về lịch sử và kết quả của các nghiên cứu trên. Chúng tôi lập luận rằng, trong khi bối cảnh cổ sinh vật học cung cấp khá nhiều “hạt nhân sự thật” (kernel of truth);  các bằng chứng thực địa hiện đại được phân tích qua lăng kính Khoa học Sự sống Linh trưởng học, chỉ ra khả năng nhận dạng các sai khác giữa Khỉ hầu lớn với các loài động vật có vú lớn đã biết, rất thuận lợi cho các nghiên cứu về Người rừng. Do đó, “nghiên cứu Người Rừng” tại Việt Nam là một trường hợp điển hình về sự giao thoa giữa di sản cổ sinh , Dân tộc học và Giải phẫu học, Sinh thái học động vật hiện đại, dẫn đến các kết quả mang tính chất thuyết phục đáng tin cậy.

  1. Giới thiệu: Bối cảnh Nghiên cứu Độc đáo của Việt Nam

Lĩnh vực nghiên cứu “Người Hoang dã” (Wildman) ở Việt Nam không phải là các cuộc săn lùng huyền thoại nghiệp dư. Nó đã và đang là đối tượng của các cuộc điều tra khoa học nghiêm túc, được tiến hành trong bối cảnh đặc thù của Việt Nam.

Không giống như Bắc Mỹ và Châu Úc (nơi không có các loài linh trưởng bản địa – trừ loài người – khiến các báo cáo về Sasquatch / Yowie trở nên bất khả thi về mặt sinh – địa lý), Việt Nam là một điểm nóng (hotspot) toàn cầu về Linh trưởng học. Quan trọng hơn, từ góc độ Cổ sinh vật họcKhảo cổ học, Việt Nam là một trong số ít những nơi trên Trái Đất mà hồ sơ hóa thạch xác nhận sự cùng tồn tại của tổ tiên loài người (Homo sapiens) với các loài vượn khổng lồ (Great Apes) khác trong một  thời gian dài.

Các nghiên cứu tại Việt Nam có thể được phân tích thành ba lĩnh vực chính: di sản cổ sinh, dữ liệu dân tộc học, và các cuộc khảo sát động vật học bí ẩn.

  1. Di sản Cổ sinh vật học: “Hạt nhân Sự thật”

Các nghiên cứu về Người Rừng tại Việt Nam có được sự tín nhiệm ban đầu từ một thực tế cổ sinh không thể chối cãi:

  • Pongo pygmaeus: Răng và hàm dưới tìm thấy ở Thẩm hai, Thẩm khuyên (Lạng Sơn),Thẩm òm (Nghê An), Mái đá Ngườm (Thái Nguyên)… và gần đây, (1998) mới tìm thấy 2 bộ xương nguyên vẹn (1 mẹ, 1con) ở Cao Răm (Hòa Bình) chứng tỏ đười ươi không phải đã bị tuyệt chủng từ 8000 năm trước mà còn tồn tại lâu hơn đến cách nay chỉ 4000 năm .(1)
  • Gigantopithecus blacki: Hóa thạch của loài Vượn người khổng lồ lớn nhất (Great Apes) từng tồn tại được tìm thấy  ở các hang động đá vôi (karst) miền Bắc Việt Nam (ví dụ: LàngTráng -Thanh Hóa). 2), (3)
  • Homo erectus: Hóa thạch ” Người đứng thẳng ” (Hominini) cùng với các công cụ đồ đá cũ, đồ đá mới… được phát hiện rộng rãi ở  rất nhiều nơi trên toàn quốc ( Lạng Sơn, Thanh Hóa, An Khê, Đồng Nai…),  đồ đá cổ sơ nhất mới tìm thấy tại  Rộc Tưng, Gò Đá ở An Khê (Gia Lai) cách đây trên 800.000 năm, thuộc sơ kỳ đồ đá cũ. (6),(13).
  • Homo sapiens: Răng Người tinh khôn được tìm thấy ở Thẩm Hai, Thẩm Khuyên (Lạng Sơn), Hang Hùm (Yên Bái), Thung Lăng (Ninh Binh)…(2), Đặc biệt nhất năm 2017-2018  các nhà khảo cổ mới phát hiện một bộ xương nguyên vẹn của người tinh khôn (H.sapiens) tại hang Thung Bình 1 ở Tràng An (Ninh Bình), đặt tên TBh1,  Tiến sĩ Thorsten Kahlert  ở đại học Qheen’s (Anh quốc) chuyên gia khảo cổ SUNDASIA  xác định có niên đại cách nay 13.000 năm; đã có hơn 20 trường đại học hàng đầu thế giới như Queen’s, Copenhagen… đều đã công nhận. (11)
  • Những hồ sơ khảo cổ học trên (ví dụ tại Thẩm Hai, Thẩm Khuyên) xác nhận rằng Homo sapiens, Homo erectus, GigantopithecusPongo đã cùng chia sẻ một hệ sinh thái lâu dài (2), (3). Do đó, nhận thức về một loài vượn người khổng lồ, đi bằng hai chân không phải là sản phẩm của trí tưởng tượng, mà là một thực tế lịch sử-sinh học tại khu vực này. Điều này cung cấp một “hạt nhân sự thật” (kernel of truth) và tính khả thi về mặt sinh – địa lý cho giả thuyết về một loài “thừa kế” còn sót lại.
  • câu hỏi khoa học ở Việt Nam hiện nay không phải là “Liệu một sinh vật như vậy có thể tồn tại ở đây không ?” mà là “Liệu một loài ‘thừa kế’ (relict species) từ di sản phong phú đó có thể sống sót đến ngày nay không ?”. Bài báo này lập luận rằng giả thuyết này là hợp lý, dựa trên sự hội tụ của ba trụ cột bằng chứng:  Nền tảng cổ sinh vật học, Dữ liệu dân tộc học và lịch sử, Bằng chứng vật thể thu được từ thực địa.
  1. KHO TÀNG DỮ LIỆU DÂN TỘC HỌC VÀ LỊCH SỬ

Nếu trụ cột thứ nhất cung cấp tính khả thi trong quá khứ thì trụ cột thứ hai cung cấp các bằng chứng nhất quán trong hiện tại thông qua các truyện dân gian truyền miệng, văn học truyền miệng, báo cáo của nhân chứng, bao gồm cả tri thức bản địa và các quan sát lịch sử độc lập.

  • 3.1. Tính nhất quán trong Tri thức Bản địa: Các nhóm dân tộc thiểu số sống ở Dãy Trường Sơn và Tây Nguyên như: Gia-Rai, Ba-Na, Ê-Đê, Mơ-Nông, Xê-Đăng, Ha- Lăng, Bơ-Râu… gọi Người rừng là: Bong bót, Bơ ban mơ năng, Hăng háy, Ma lay, Kdjhăt,  Mnuih, Jing tan,  Arăc tan, Kon nun, Dạ tày nông …và các dân tộc vùng Tây Bắc : Tày, Nùng, Thái, Mường….gọi chúng là  Pì Coong Cói…   Nói chung họ đều có những mô tả Người Rừng tương tự giống nhau .Từ góc độ Nhân chủng học, điều quan trọng là họ đều đã phân biệt rõ ràng Người Rừng với các loài  động vật có vú lớn đã biết : Gấu, Đười ươi, Khỉ, Vượn,… có ở trong vùng (kể cả về hình dáng, kích thước, màu lông, dấu chân, phân, mùi hôi cơ thể, cách di chuyển, hoạt động và tập tính….của từng loài nên họ nhận định không nhầm lẫn.
  • Báo cáo thời chiến:  Trong thời kỳ chiến tranh rất nhiều cán bộ, bộ đội Việt Nam sinh sống, hoạt động trong rừng rậm nguyên sinh bạt ngàn, nơi thâm sơn cùng cốc nên đã có rất nhiều báo cáo, câu chuyện tiếp giáp với người rừng… Tại Đăk Mil (Đăk Lăk) còn có câu chuyên dân bắt được Người rừng mang về giữ tại Huyện nhiều ngày, lúc ấy nhà báo Úc Wilfred Burchette cũng có mặt tại đây và đã quan sát kỹ đối tượng này.
  • 3.2.  Các báo cáo lịch sử độc lập: Các báo cáo này đến từ các nguồn “bên ngoài”, không liên quan đến văn hóa dân gian địa phương, nhưng lại củng cố các mô tả của người bản địa . Đầu tiên phải kể một sĩ quan Pháp Hules Harrois báo cáo năm 1947 đi tuần tại Kontum đã gặp một người rừng lông lá to lớn tại gần làng Kongmaha;  báo cáo của nhà báo Úc Wilfred Burchette khi thăm vùng giải phóng miền Nam Việt Nam, (9); các cựu binh Mỹ như phi công trực thăng Lary Wilson báo cáo nhìn thấy rất rõ 1 người rừng đang di chuyển trên các cành cây; lính trinh sát Gary Linderer thuộc đội trinh sát không quân 101 của Mỹ, báo cáo nhìn thấy 1 người rừng lông lá cao 1,5m, có cơ bắp rất rõ; lính trinh sát Thomas M.Jenkins báo cáo đã gặp một đàn người vượn to lớn như người, dọa nạt và ném đá vào nơi đóng quân của trung đội anh vào năm 1969, họ gọi là “Vượn đá” (Rock Apes) (8) ;  Loren Coleman (1999) ghi chép về chuyện  một đôi nam nữ người rừng bị lính Nam Hàn thuộc sư đoàn Bạch Mã bắt mang về giam ở đồn Dục Mỹ (Khánh Hòa) (5); Năm 2012 Đoàn Destination Truth Mỹ tìm Người rừng tại Vũ Quang (Hà Tĩnh) dùng bãy ảnh chụp được 1 dấu chân người rừng gọi là chân Batutut (7)…các báo cáo này từ nhiều nguồn khác nhau nhưng cùng mô tả một thực thể tương tự, làm tăng thêm sức nặng cho dữ liệu dân tộc học kể trên.
  1. NGHIÊN CỨU THỰC ĐỊA VÀ BẰNG CHỨNG HÌNH THÁI

Đây là trụ cột mang tính khoa học vật thể, chuyển “Người Rừng” từ lĩnh vực dân gian sang đối tượng của Động vật học Bí ẩn (Cryptozoology), không chỉ là thu thập những câu chuyện huyền thoại, chuyện kể trong dân gian ở các địa phương mà là các cuộc thám hiểm thực địa rất nghiêm túc. Năm 1963 khi khảo sát động vật tại Sơn La giáo sư Đào Văn Tiến đã phát hiện người rừng Pì coong cói ở huyện Thuận Châu (15) ; Năm 1974 khi chiến tranh chưa kết thúc, chính quyền Miền Bắc đã cử một đoàn cán bộ khoa học gồm các giáo sư Hoàng Xuân Chinh (Viện Khảo cổ), Võ Quý, Lê Vũ Khôi (Trường Đại học Tổng hợp) tới tỉnh Đăk Lăk tìm hiểu về động vật dạng người nhưng chưa có kết quả…Trọng tâm là công trình nghiên cứu hệ thống của PGS.TS Trần Hồng Việt (Trung tâm Nghiên cứu Động vật ẩn sinh và Động vật quý hiếm Việt Nam).

4.1. Công trình của PGS.TS Trần Hồng Việt

Sau chiến tranh các nhà khoa học Miền Bắc mới có điều kiện mở rộng nghiên cứu vào Miền Nam. Năm 1977 chương trình Nhà nước ” Điều tra tổng hợp vùng lãnh thổ Tây Nguyên “do Viện Khoa học Việt Nam chủ trì, mảng đề tài Động vật, trong đó có nghiên cứu người hoang dã được triển khai chính thức và do PGS.TS Trần Hồng Việt thực hiện, trong nhiều thập kỷ, ông đã  nỗ lực dẫn đầu các đoàn khảo sát thực địa, đặc biệt tập trung vào Tây Nguyên (Gia Lai, Kon Tum, Đăk Lăk, Lâm Đồng.) .(16)

4.2. Hiện vật “Loại” (Type Specimen): Dấu chân Kon Tum 1982

Từ năm 1980 đề tài Người rừng được đưa vào Chương trình trọng điểm của Nhà nước, mang mã số 5202-0102b, nghiên cứu người rừng được đẩy mạnh hơn, đỉnh điểm năm 1982 Đoàn thám hiểm đẫ phát hiện quan sát kỹ, chụp ảnh và đúc, thạch cao một dấu chân “Người rừng lớn” (Great Wildman) tại Sa Thầy, Kon Tum.(17)

Dấu chân 824T1 Kontum

Bản thạch cao 824T1

Từ góc độ Bảo tàng học (Museology), Ảnh và mẫu đúc thạch cao này là “hiện vật” quan trọng nhất (the key artifact) trong toàn bộ lĩnh vực nghiên cứu này ở Việt Nam hiện tại.

  • Mô tả: Dấu chân dài khoảng 28cm, rộng 13cm, các ngón chân đều dài, ngón cái to, không ngắn và chẽ ra như chân khỉ vượn, bàn chân không có vòm cong dọc rõ rệt như người, gót chân to và tròn. Đặc biệt có hốc lõm sâu và nếp da giữa lòng bàn chân.
  • Diễn giải (Cryptozoology): PGS.TS Việt và các nhà khoa học quốc tế (như Dr. Helmut Hemmer, Jeff Meldrum) đã phân tích và lập luận rằng nó không khớp với người, gấu hay bất kỳ loài linh trưởng nào đã biết và cho rằng nó thuộc về một Homininoid chưa được mô tả.
  • Phản biện (Primatology/Forensics): Một số nhà khoa học hoài nghi cho rằng dấu chân trong bùn có thể bị biến dạng lớn (do trượt, xói mòn) hoặc là sự “chồng dấu” (over-tracking), khi dấu chân sau của một con vật (như Gấu) đè lên một phần dấu chân trước, tạo ra một hình dạng kỳ lạ.  Điều phản biện này đúng là hoài nghi vì những người hoài nghi chưa hề quan sát trên thực địa cũng như xem ảnh chụp và bản đúc thạch cao của dấu chân.
  • Về vấn đề Quần thể Khả tồn Tối thiểu (MVP): Đây là lập luận phản bác mạnh mẽ nhất. Để một loài động vật lớn, có tuổi thọ cao như Hominoid tồn tại trong hàng chục ngàn năm, nó cần một quần thể sinh sản (MVP) gồm hàng trăm, nếu không muốn nói là hàng ngàn cá thể, để duy trì sự đa dạng di truyền. Một quần thể lớn như vậy không thể tồn tại trong các khu rừng ngày càng bị chia cắt của Việt Nam mà không để lại bằng chứng vật lý “cứng” (xương, xác chết, phân, hay các trạm bẫy ảnh hiện đại ghi lại được). Thực ra, Một quần thể bị suy thoái  không bao giờ bị tiêu biến ngay cùng một lúc, mà phải giảm số lượng dần, từ nhiều đến ít, đến tiêu biến. Lấy ví dụ Gigantopithecus blacki phân bố ỏ Nam Trung quốc và Đông Nam Á,  600.000 năm trước đây môi trường sống thay đổi, đã phải chuyển từ rừng rậm sang rừng thưa, nghèo thức ăn quen thuộc nên đã  bị diệt dần, tại Trung quốc, chúng chỉ còn tồn tại đến cách đây 295 – 215 nghìn năm; ở Việt Nam (là mép rìa ngoài vùng phân bố) cách đây hơn 200 nghìn năm (1780-1800) vẫn còn gặp chúng tại Tuyên Quang và Phú Xuân (nay là Huế) (10) tuy số lượng rất ít. Điều đáng chú ý là cả ở Trung Quốc và Việt Nam có tìm thấy bộ xương hoặc hộp sọ của chúng đâu, mà chỉ tìm thấy một số răng và vài mảnh hàm dưới của chúng ;  Một ví dụ nữa: quần thể Tê giác một sừng (Rhinoceros sondaicus annamiticus) phân bố rộng ở Việt Nam (Lai Châu, Sơn La, Đăk Lăk, Bình Phước…), những năm 1900 chỉ còn lại vài chục cá thể ở Đồng Nai (Vườn Quốc gia Cát Tiên), năm 1999 quần thể được xác định chỉ còn 5-8 cá thể, năm 2017 còn 4-5 cá thể và cá thể cuối cùng bị bắn chết vào tháng 4 năm 2010. Năm 2011, Quỹ bảo tồn động vật hoang dã (WWF) và Quỹ Bảo tồn Tê giác Quốc tế (IRF) đã tuyên bố chúng tuyệt chủng,  Như vậy là dù chỉ còn rất ít cá thể, quần thể vẫn có thể tồn tại .Do vậy, một loài linh trưởng lớn đang còn hiện hữu với só lượng rất ít  rất có thể là sự thực.  Chỉ đáng tiếc là hiện chúng ta chưa thu được nhiều mẫu vật và chưa có mẫu ADN làm bằng chứng cụ thể.   
  1. Kết luận

Các nghiên cứu “Người rừng” ở việt Nam tuy chưa thật khả quan, nhưng bước đầu đã ghi nhận được nhiều chứng cứ và đã phát hiện được ở Tây Nguyên Việt Nam đang hiện hữu 2 dạng Linh trưởng lớn dạng người là Người rùng lớn (Great wildman) và Người rừng nhỏ (Small wildman), chúng không phải là Vượn khổng lồ (Gigangtopithecus blacki), Đười ươi (Pongo pygmaeus), người cổ đai (Homo erectus) hoặc Gấu ngựa (Ursus thibetanus) mà cũng không phải là người Neanderthal còn tồn tại ,

                                   

 TÀI  LIỆU THAM  KHẢO.

  1. Bacon A-M and Long V (2001). The firstdiscovery of a complete skeleton of a fossil orang-utan in a cave of the Hoa Binh Province, Vietnam. Journal of Human Evolution. 41:227-41.
  2. Bacon, A. M., et al. (2008). The Pleistocene mammal fauna of Thâm Khuyên Cave, Lạng Sơn province, Vietnam. Journal of Asian Earth Sciences, 33(3-4), 329-349.
  3. Ciochon, R. L., Long, V. T., Larick, R., González, L., Grün, R., de Vos, J., … & Reagan, M. (1996). Dated co-occurrence of Homo erectus and Gigantopithecus from Tham Khuyen Cave, Vietnam. Proceedings of the National Academy of Sciences, 93(7), 3016-3020.
  4. Ciochon & Olsen, (1986).Paleoanthropological and archaeological research in the Socialist Republic of Vietnam, Journal of Human Evolution 15: 7, 623-631
  5. Coleman, L., & Huyghe, P .(1999). The Field guide to Bigfoot,Yeti and Other Mystery Primates Worldwide. New York : Avon Books
  6. Derevianko, A. P., Kandyba, A. V., Nguyen, K. S., Gladyshev, S. A., Nguyen, G. H., Li, P. L., … & Chekha, A. M. (2018). The An Khe Paleolithic site (Gia Lai province, Vietnam): new data on the Early Paleolithic of Indochina. Archaeology, Ethnology & Anthropology of Eurasia, 46(4), 3-14.
  7. Destination Truth. (2012). Batutut/The Return [Tập phim truyền hình]. Sê-ri 5, Tập 6.SyFy Channel.
  8. Finding Bigfoot. (2013). Rock ‘n’ Roll Bigfoot [Tập phim truyền hình]. Sê-ri 3, Tập 23. Animal Planet.
  9. Forth, G. (2008). Images of the Wildman in Southeast Asia: An Anthropological Perspective.  New York : Routledge.
  10. Ho, P. Đ. & Nguyễn Án, (1970).  Tang thương ngẫu lục, Nxb  Bộ Giáo dục và Đào tạo.
  11. Kahlert, T., et al. (2019). A 13,000-year-old Homo sapiens burial from Trang An, Vietnam. Poster presented at the SUNDASIA international conference, Hanoi.
  12. Meldrum, D. J. (2006). Sasquatch: Legend Meets Science. Forge Books.
  13. Nguyễn, K. S., et al. (2018). Những phát hiện mới về Sơ kỳ Đá cũ ở An Khê, Gia Lai [New discoveries of the Early Paleolithic in An Khe, Gia Lai]. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội.
  14. Schwartz JH, VT Long, NL Cuong, LT Kha, ITattersall (1995) A review of the PleistoceneHominoid fauna of the Socialist Republic ofVietnam (excluding Hylobatidae). Anthropological Papers of the American Museum
    of Natural History, Number 76, 23p.
  15. Tien, Đ.V. (1970). Khảo sát động vật miền Tây Bắc Việt Nam [Survey of fauna in the Northwestern region of Vietnam]. Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật.
  16. Viet, T.H. (1982). Báo cáo tổng kết đề tài 5202-0102b: Điều tra nghiên cứu Người Rừng ở Việt Nam [Final report on project 5202-0102b: Survey and research on the Wildman in Vietnam]. Báo cáo kỹ thuật, Viện Khoa học Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam).
  17. Viet, T.H. & Tran Hong Hai, Jeff Meldrum, 2021. Research on Wildmen in Vietnam, The Relict Hominoid Inquiry 10  : 6 – 28 (2021) .