

Tóm tắt
Vùng Duyên hải miền Trung (DHMT) của Việt Nam sở hữu vị trí địa chiến lược và tiềm năng to lớn cho phát triển kinh tế biển, song đang đối mặt với các thách thức kép từ phát triển nội tại và các tác động nghiêm trọng của biến đổi khí hậu (BĐKH). Bài báo này phân tích thực trạng phát triển kinh tế biển vùng DHMT dựa trên việc tổng quan các chủ trương, chính sách (Nghị quyết 36-NQ/TW, 26-NQ/TW) và dữ liệu thứ cấp về các ngành kinh tế then chốt. Kết quả phân tích cho thấy, mặc dù đã có những tiến bộ đáng kể trong phát triển thủy sản (tăng trưởng trung bình 5,5%/năm), công nghiệp ven biển (lọc hóa dầu, năng lượng tái tạo), và du lịch, sự phát triển của vùng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Các hạn chế cơ bản bao gồm: thiếu liên kết vùng, hạ tầng logistics và giao thông đa phương thức chưa đồng bộ, công nghệ khai thác và chế biến còn hạn chế, và các vấn đề môi trường ven biển ngày càng gia tăng. Nghiên cứu cũng chỉ ra tính dễ bị tổn thương cao của vùng trước BĐKH, biểu hiện qua các tác động tiêu cực đến tài nguyên du lịch, an toàn hàng hải, hiệu quả khai khoáng, sức khỏe hệ sinh thái biển (thủy triều đỏ, suy giảm DO) và sự ổn định của hạ tầng công nghiệp ven biển. Dựa trên các phân tích này, bài báo đề xuất 7 nhóm giải pháp mang tính hệ thống, tập trung vào đổi mới tư duy liên kết vùng, quy hoạch không gian biển tổng hợp, tái cơ cấu kinh tế theo hướng kinh tế xanh, hiện đại hóa hạ tầng thích ứng BĐKH, và tăng cường quản trị tài nguyên – môi trường biển.
Từ khóa: kinh tế biển, phát triển bền vững, kinh tế biển xanh, Duyên hải miền Trung, biến đổi khí hậu, liên kết vùng, hệ sinh thái biển.
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh toàn cầu thế kỷ XXI, đại dương được xác định là không gian chiến lược và động lực tăng trưởng mới. Nhiều quốc gia đã định hướng phát triển kinh tế biển (hay “kinh tế biển xanh”) như một trụ cột để nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia (1). Đối với Việt Nam, vùng Duyên hải miền Trung (DHMT) – khu vực chiếm 14/28 tỉnh thành giáp biển và hơn 55% chiều dài bờ biển cả nước (2) – giữ vai trò then chốt trong chiến lược biển quốc gia.
Các định hướng chính sách vĩ mô, đặc biệt là Nghị quyết số 36-NQ/TW (về phát triển bền vững kinh tế biển) và Nghị quyết số 26-NQ/TW (về phát triển vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ), đã nhấn mạnh yêu cầu chuyển đổi mô hình phát triển từ “kinh tế nâu” sang “kinh tế xanh”, tối ưu hóa lợi thế biển đi đôi với bảo tồn hệ sinh thái và thích ứng BĐKH. Vùng DHMT có nhiều lợi thế đặc thù: hệ thống cảng nước sâu (Chân Mây, Liên Chiểu, Dung Quất), các khu kinh tế (KKT) ven biển (Nghi Sơn, Vũng Áng, Chu Lai), tiềm năng năng lượng tái tạo (gió, mặt trời) và nguồn lợi thủy sản phong phú.
Tuy nhiên, thực tiễn phát triển của vùng còn nhiều chỉ số thấp hơn trung bình cả nước, tiềm năng chưa được khai thác hiệu quả, và đặc biệt, đây là một trong những khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH tại Việt Nam (20). Bài báo này có mục tiêu: (i) Phân tích thực trạng và các hạn chế trong phát triển các ngành kinh tế biển chủ chốt tại DHMT; (ii) Đánh giá các tác động đa ngành của BĐKH đến sự phát triển kinh tế biển của vùng; và (iii) Đề xuất các giải pháp chiến lược nhằm thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế biển vùng DHMT trong bối cảnh mới.
2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện chủ yếu dựa trên phương pháp tổng quan tài liệu (literature review) và phân tích dữ liệu thứ cấp (secondary data analysis). Nguồn dữ liệu bao gồm:
- Các văn bản pháp lý và chính sách: Nghị quyết 36-NQ/TW, Nghị quyết 26-NQ/TW, và các văn bản liên quan (16).
- Dữ liệu thống kê và báo cáo chuyên ngành: Tổng hợp số liệu từ các báo cáo tổng kết của các Bộ, ngành (Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư, Tài nguyên và Môi trường), Tổng cục Thống kê giai đoạn 2004 – 2020 (2, 4, 5, 6, 11, 13, 14, 15, 18, 19, 22).
- Các công trình nghiên cứu đã công bố: Bài báo khoa học, kỷ yếu hội thảo và các ấn phẩm chuyên khảo (7, 8, 9, 10, 12, 17, 21).
Phương pháp phân tích tổng hợp, so sánh và đánh giá được sử dụng để hệ thống hóa thực trạng, xác định các điểm nghẽn trong phát triển và nhận diện các rủi ro khí hậu đa ngành.
3. Kết quả và Thảo luận
3.1. Thực trạng phát triển các ngành kinh tế biển vùng DHMT
Giai đoạn qua, kinh tế biển DHMT đã ghi nhận những chuyển biến tích cực, thể hiện qua sự tăng trưởng của các ngành then chốt:
- Nuôi trồng và khai thác thủy sản: Tốc độ tăng trưởng trung bình đạt 5,5%/năm. Tổng sản lượng năm 2020 đạt 1.913,47 nghìn tấn (tăng 2,3 lần so với 2004). Đáng chú ý là sự tăng trưởng sản lượng nuôi trồng (tăng gần 3 lần, đạt 272,99 nghìn tấn năm 2020) và sự dịch chuyển cơ cấu đội tàu theo hướng khai thác xa bờ (số tàu >90CV tăng từ 10.916 lên 20.119 tàu), tập trung vào các sản phẩm giá trị cao như cá ngừ đại dương (4).
- Diêm nghiệp: Có sự chuyển dịch cơ cấu, giảm diện tích thủ công (còn 1.670,2ha) và tăng diện tích công nghiệp (lên 3.504ha). Tổng sản lượng muối năm 2020 đạt 817,9 tấn, với các trung tâm lớn như Ninh Thuận (Cà Ná), Quảng Ngãi (Sa Huỳnh) (5).
- Công nghiệp dầu khí và năng lượng: Các dự án lọc hóa dầu quy mô lớn (Dung Quất, Nghi Sơn) đã trở thành động lực tăng trưởng quan trọng (6). Vùng cũng là trung tâm năng lượng tái tạo, đặc biệt là điện gió và mặt trời, với 38 nhà máy (tổng công suất 2.027 MW) tại Ninh Thuận và Bình Thuận tính đến tháng 6/2019 (13). Dự án khí Cá Voi Xanh đang được triển khai (7).
- Du lịch biển, đảo: Giai đoạn 2005-2020, tốc độ tăng trưởng khách đạt 8%/năm (trước COVID-19). Nhiều sản phẩm du lịch nghỉ dưỡng biển cao cấp đã hình thành (Sầm Sơn, Cửa Lò, Lăng Cô, Đà Nẵng, Nha Trang, Mũi Né), khẳng định vị thế của vùng (8).
- Khu kinh tế ven biển (KKT) và giao thông: Vùng tập trung 11/18 KKT ven biển cả nước, tỷ lệ lấp đầy đạt trên 40% (9). Năm 2020, các KKT thu hút 1.347 dự án với vốn đăng ký 1.507 nghìn tỷ đồng, giá trị sản xuất đạt 675.525 tỷ đồng (10). Hệ thống cảng biển được đầu tư với 9 cảng loại I (11).
3.2. Những hạn chế và bất cập (Các điểm nghẽn phát triển)
Bên cạnh các thành tựu, phát triển kinh tế biển DHMT còn bộc lộ nhiều hạn chế mang tính hệ thống:
- Thiếu liên kết và đồng bộ: Các KKT phát triển chưa tương xứng tiềm năng, thiếu gắn kết nội vùng và liên vùng. Hạ tầng kỹ thuật (logistics, cảng cạn ICD, xử lý nước thải) và hạ tầng xã hội (nhà ở, trường học) thiếu đồng bộ (15). Kết nối đa phương thức (đường bộ – hàng hải, đường sắt – cảng biển) còn yếu kém (18).
- Chất lượng và giá trị gia tăng thấp: Ngành đóng tàu chủ yếu là gia công, phụ thuộc nhập khẩu (16). Sản phẩm du lịch còn trùng lặp, thiếu đặc sắc và thương hiệu quốc tế mạnh, sức cạnh tranh chưa cao (17).
- Quản lý tài nguyên và môi trường: Khai thác tài nguyên còn bị động, thiếu hiệu quả. Ô nhiễm môi trường ven biển, đặc biệt từ các KCN và sinh hoạt, chưa được kiểm soát triệt để. Tỷ lệ KCN có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt chuẩn chỉ đạt 69,6%, thấp hơn trung bình cả nước (19).
3.3. Tác động của biến đổi khí hậu đến kinh tế biển (Phân tích rủi ro)
DHMT là vùng chịu rủi ro thiên tai cấp III và IV (20), khiến các hoạt động kinh tế biển trở nên đặc biệt dễ bị tổn thương trước BĐKH:
- Đối với Du lịch và Hệ sinh thái: BĐKH (bão, nước biển dâng) gây xói lở bờ biển, phá hủy cảnh quan, làm suy thoái các hệ sinh thái nhạy cảm (rạn san hô, thảm cỏ biển) – vốn là tài nguyên cốt lõi của du lịch. Thời tiết cực đoan làm gián đoạn hoạt động lữ hành và hủy hoại cơ sở vật chất ven biển.
- Đối với Thủy sản: Nhiệt độ nước biển tăng và các hiện tượng “sóng nhiệt” làm giảm nồng độ oxy hòa tan (DO), gây stress và chết hàng loạt ở thủy sản nuôi. Đồng thời, BĐKH tạo điều kiện cho các dịch bệnh và hiện tượng “thủy triều đỏ” bùng phát, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và trữ lượng nguồn lợi.
- Đối với Công nghiệp ven biển và Khai khoáng: (i) Dầu khí: Thời tiết khắc nghiệt (bão) gây rủi ro cho các công trình ngoài khơi, cản trở bảo trì và tăng chi phí vận hành. (ii) Khai khoáng (Titan): Hạn hán (mùa khô) gây thiếu nước cho tuyển quặng; mưa lũ (mùa mưa) gây ngập úng, xói mòn tài nguyên và hư hỏng thiết bị (21). (iii) Công nghiệp ven biển: Nguy cơ ngập lụt KCN do nước biển dâng; tăng chi phí năng lượng (làm mát) và gián đoạn chuỗi cung ứng (22).
- Đối với Hàng hải và Năng lượng tái tạo: Bão và sóng lớn làm gián đoạn hoạt động cảng, tăng rủi ro mắc cạn. Các công trình điện gió ngoài khơi đối mặt với rủi ro kỹ thuật và chi phí vận hành cao hơn do điều kiện thời tiết khắc nghiệt.
4. Kết luận và Kiến nghị
4.1. Kết luận
Vùng Duyên hải miền Trung sở hữu tiềm năng vượt trội để phát triển kinh tế biển, đóng vai trò là đầu tàu trong thực hiện Chiến lược biển Việt Nam. Thực tiễn phát triển thời gian qua đã đạt được những kết quả ban đầu quan trọng, hình thành các trụ cột công nghiệp – du lịch – thủy sản. Tuy nhiên, sự phát triển này còn thiếu bền vững, chưa tương xứng tiềm năng, biểu hiện ở các điểm nghẽn về hạ tầng, thiếu liên kết, chất lượng tăng trưởng thấp và quản trị môi trường yếu kém. Trong bối cảnh BĐKH đang diễn ra ngày càng gay gắt, tính dễ bị tổn thương cao của vùng đang khuếch đại các thách thức này, đe dọa trực tiếp đến tài nguyên, hạ tầng và sinh kế ven biển.
4.2. Kiến nghị giải pháp
Để phát triển bền vững kinh tế biển vùng DHMT, cần một cách tiếp cận tổng hợp và đồng bộ, tập trung vào các nhóm giải pháp chiến lược sau:
- Đổi mới tư duy và thể chế về liên kết vùng: Coi liên kết vùng là động lực phát triển tất yếu. Cần có cơ chế điều phối và chia sẻ nguồn lực hiệu quả giữa các địa phương để giải quyết các vấn đề chung (hạ tầng, môi trường, thích ứng BĐKH).
- Quy hoạch không gian tổng thể: Thực hiện quy hoạch không gian biển quốc gia và quy hoạch vùng, tích hợp chặt chẽ phát triển (KKT, cảng biển) với bảo tồn (mở rộng khu bảo tồn biển – MPA) và thích ứng BĐKH. Phục hồi các hệ sinh thái trọng yếu (rạn san hô, rừng ngập mặn) để tăng cường khả năng chống chịu.
- Tái cơ cấu các ngành kinh tế biển:
- Công nghiệp: Phát triển các cụm ngành liên kết (lọc hóa dầu, năng lượng, cơ khí chế tạo) tại các KKT nòng cốt (Dung Quất, Nghi Sơn). Ưu tiên công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn.
- Năng lượng: Hình thành các trung tâm năng lượng tái tạo quy mô lớn (điện gió ngoài khơi, hydrogen), gắn với an ninh năng lượng quốc gia. Đẩy nhanh tiến độ các dự án chiến lược (Cá Voi Xanh).
- Thủy sản: Tái tổ chức khai thác ven bờ, chuyển dịch sang nuôi biển công nghệ cao xa bờ, xử lý triệt để vấn đề khai thác IUU. Nâng cao chuỗi giá trị (cá ngừ, tôm hùm) và bảo vệ thương hiệu truyền thống.
- Phát triển hạ tầng đồng bộ, thích ứng: Tập trung hoàn thiện tuyến đường bộ ven biển và các trục cao tốc Đông – Tây kết nối cảng biển với Tây Nguyên và các cửa khẩu. Nâng cấp các cảng biển then chốt (Đà Nẵng, Khánh Hòa, Thanh Hóa) thành các trung tâm logistics tầm cỡ.
- Nâng cao năng lực quản trị tài nguyên và môi trường: Áp dụng các tiêu chuẩn môi trường nghiêm ngặt (chuẩn quốc tế) cho các dự án ven biển có nguy cơ ô nhiễm cao. Xây dựng hệ thống giám sát, cảnh báo sự cố môi trường biển. Quản lý hiệu quả rác thải nhựa đại dương.
- Phát triển du lịch bền vững: Đa dạng hóa sản phẩm, xây dựng thương hiệu du lịch biển đảo đẳng cấp quốc tế dựa trên bảo tồn di sản và đa dạng sinh học. Thí điểm các mô hình du lịch sinh thái xa bờ.
- Khoa học công nghệ và An sinh xã hội: Tăng cường R&D và ứng dụng công nghệ trong dự báo thiên tai, quản lý biển. Hỗ trợ người dân ven biển chuyển đổi sinh kế bền vững, giảm phụ thuộc vào các hoạt động khai thác xâm hại tài nguyên.
Tài liệu tham khảo
(Danh mục được biên tập lại dựa trên các chú thích của văn bản gốc)
[1] Báo điện tử Tổ quốc (2023). Thủ tướng: Quyết tâm biến Bắc Trung Bộ và Duyên hải Trung Bộ thành vùng đất giàu có, giàu bản sắc văn hóa. Truy cập ngày 25-8-2023. [2] Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2018). Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 22-10-2018, về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. [3] Bộ Chính trị (2022). Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 3-11-2022, về Phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. (Dựa trên nội dung giới thiệu của bài gốc). [4] Dữ liệu tổng hợp (2022). Tổng kết thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW và Kết luận số 25-KL/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế – xã hội vùng Bắc Trung bộ và duyên hải Trung bộ. (Tổng hợp từ các chú thích (2), (4), (5), (6), (11), (15), (18) của bài gốc). [5] Báo Đấu thầu (2023). Thúc tiến độ đưa khí vào bờ từ mỏ Cá Voi Xanh. Truy cập ngày 22-8-2023. [6] Tạp chí của Ban Tuyên giáo Trung ương (2023). Phát triển kinh tế biển xanh. Truy cập ngày 15-9-2023. [7] Báo Nhân dân điện tử (2023). Đóng góp phát triển kinh tế biển miền trung. Truy cập ngày 19-8-2023. [8] Tạp chí Tài nguyên và Môi trường (2023). Giải pháp phát triển bền vững kinh tế biển vùng Duyên hải Bắc Trung Bộ và Duyên hải Trung Bộ. Truy cập ngày 11-9-2023. [9] Báo cáo Bộ Tài chính (2019). Phát triển các mũi nhọn kinh tế biển miền Trung. Truy cập ngày 12-8-2023. [10] Ủy ban quốc gia ứng phó sự cố thiên tai và tìm kiếm cứu nạn (2020). Sổ tay hướng dẫn xây dựng phương án ứng phó thiên tai theo các cấp độ rủi ro thiên tai. [11] Võ Thị Cẩm Bình (2016). “Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hoạt động khai thác – chế biến titan ven biển miền Trung”, Tạp chí Viện Khoa học và Công nghệ Mỏ – Luyện kim online. [12] Báo cáo Bộ Tài nguyên và Môi trường (2020). Tác động của biến đổi khí hậu đến các lĩnh vực.

